Pop Art và sự tái định nghĩa nghệ thuật không cấp bậc

“Vạn vật đều có vẻ đẹp. Và Pop Art là tất cả những thứ đó”. Đây là câu nói nổi tiếng của Andy Warhol - gương mặt tiêu biểu nhất của nghệ thuật Pop Art. Bằng cách sử dụng những hình ảnh đơn giản xuất hiện trong đời sống hàng ngày, kết hợp với màu sắc nổi bật, Pop Art đã phá bỏ hệ thống phân cấp thứ bậc của nghệ thuật, thách thức các giá trị mỹ thuật truyền thống.

Pop Art/Popular Art (Nghệ thuật Đại chúng) là một phong trào nghệ thuật thị giác nổi lên vào thời đại công nghiệp những năm 1950. Pop Art thể hiện “văn hóa vật chất” bởi những hình ảnh trong Pop Art lấy cảm hứng từ những điều dễ thấy như sản phẩm tiêu dùng hàng ngày, truyền thông quảng cáo, phim ảnh… Ấn tượng đầu tiên và dễ nhận thấy nhất ở các tác phẩm Pop Art chính là những gam màu sắc cực kì nổi bật. Với những mảng màu cơ bản bắt cặp cùng những màu neon nổi bật, Pop Art mang tới một hơi thở đầy lạc quan và sống động. Pop Art cũng có sự ngẫu hứng tạo nên những điều đặc biệt, đến từ những hoạ tiết Comic (truyện tranh) hoặc Graffiti. Đây là sự ảnh hưởng của phong trào truyện tranh Comic rầm rộ và nghệ thuật Underground của Mỹ.

Nhắc tới Pop Art là phải nhắc tới tác phẩm Marilyn Monroe trong nhiều phiên bản màu sắc của Andy Warhol.

Pop Art – tiếng nói mới của nghệ thuật

Ngay sau Thế chiến II, chủ nghĩa trừu tượng đã phát triển mạnh mẽ, một số nghệ sĩ trẻ bắt đầu cảm thấy những gì được dạy ở trường nghệ thuật và những tác phẩm trong viện bảo tàng không liên quan đến cuộc sống hàng ngày. Thời điểm này, cả Hoa Kỳ và các nước Tây Âu đều chứng kiến sự tăng trưởng kinh tế và chính trị, dẫn đến bùng nổ tiêu dùng sau chiến tranh.

Ngày càng có nhiều biển quảng cáo, truyền thông đại chúng xuất hiện nhiều hơn như phim ảnh, truyền hình, báo và tạp chí, và đặc biệt văn hóa hâm mộ người nổi tiếng (fandom). Những điều này đã khiến cho giới nghệ thuật trẻ cảm thấy nên đưa những hình ảnh gần gũi hơn như phim Hollywood, bao bì sản phẩm, truyện tranh vào nghệ thuật, dẫn đến phong trào đi ngược lại với trường phái trừu tượng. Họ muốn thể hiện sự lạc quan của mình bằng một ngôn ngữ hình ảnh trẻ trung, họ chấp nhận sự dí dỏm, châm biếm thay vì những ngôn ngữ hình ảnh khó hiểu của chủ nghĩa nghệ thuật trừu tượng.

Trong giai đoạn 1952-1955, Nhóm Độc Lập (Independent Group), đại diện tiêu biểu những người muốn thách thức nghệ thuật trừu tượng bao gồm cả nghệ sĩ, nhà tri thức, đã tìm cách cải tiến hoàn toàn các quan điểm văn hóa thị giác. Trong quá trình này, họ đã phát minh ra Pop Art và tạo động lực giúp khởi động phong trào, ban đầu nổi lên ở Anh và nhanh chóng lan tới New York. Mặt khác, các xu hướng văn hóa đại chúng cũng bắt đầu thay đổi, sức ảnh hưởng của Elvis Presley ở Mỹ và The Beatles ở Anh vào những năm 1950 và 1960 đã mở đường cho sự phát triển của Pop Art. Loại hình nghệ thuật này sau đó đã nhanh chóng lan khắp thế giới.

Phong cách vẽ lấy cảm hứng từ truyện tranh siêu anh hùng của Roy Lichtenstein – một trong những gương mặt đại diện cho nghệ thuật Pop Art thời kì đầu – đã trở thành biểu tượng trong nền văn hóa Mỹ ngày nay.

Roy Lichtenstein từng tuyên bố: “Pop Art nhìn trực diện thế giới. Nó không giống như một bức tranh vẽ một cái gì đó, mà Pop Art thể hiện đúng bản chất của chính sự vật đó”. Đó chính là tư tưởng chủ đạo của nghệ thuật Pop Art ở Mỹ: sử dụng những hình ảnh người nổi tiếng, truyện tranh, truyền hình… từ thế giới bên ngoài, và đi ngược lại với việc nhấn mạnh vào cảm xúc từ chủ nghĩa cá nhân (đặc trưng của chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng). Phong cách của Roy cũng lấy cảm hứng từ truyện tranh, thể hiện những quan điểm về nghệ thuật của mình thông qua các ô lời thoại trong những tác phẩm, sau này đã trở thành một biểu tượng ở Mỹ.

Ở Anh, Pop Art lại tập trung vào khía cạnh châm biếm những gì hình ảnh đại chúng thể hiện ở Mỹ và sức mạnh của nó trong việc thao túng lối sống của mọi người. Dù là với cách tiếp cận chủ đề như thế nào thì Pop Art có mục đích chính vẫn là xóa mờ ranh giới giữa nghệ thuật “hàn lâm – cao cấp” và văn hóa “đại chúng – bình thường”. Đây được xem như một bước đi mới của nhân loại tiếp cận đến thế giới nghệ thuật.

Rốt cục điều gì làm cho những ngôi nhà ngày nay thật khác lạ, thật lôi cuốn? Tác phẩm 1956 của Richard Hamilton là tranh cắt dán cũng tác phẩm đầu tiên của Pop Art, đem đến hình ảnh một cặp đôi là một vận động viên thể hình và một vũ công nổi tiếng được bao quanh bởi tất cả những tiện ích mà cuộc sống hiện đại cung cấp. Hamilton vừa ca ngợi chủ nghĩa tiêu dùng vừa nhạo báng quảng cáo về cuộc sống “đẹp như tranh vẽ” mà nền kinh tế Mỹ cố tiếp thị.

Nghe đến "trắng đen", có lẽ nhiều người sẽ liên tưởng đến sự “đơn điệu”, thậm chí là “nhàm chán”. Nhưng các tác phẩm nghệ thuật trắng đen lại...

Nguồn cảm hứng cho nhiều loại hình nghệ thuật

Thời trang

Phong cách đặc biệt của Pop Art chưa bao giờ lỗi mốt. Trong gần 50 năm qua, phong trào nghệ thuật Pop Art luôn là nguồn cảm hứng vô tận cho các nghệ sĩ và nhà thiết kế hiện đại. Và Andy Warhol là một trong số những nghệ sĩ Pop Art người Mỹ nổi tiếng nhất thế giới, có sức ảnh hưởng mạnh trong làng thời trang. Khởi đầu là một nghệ sĩ minh họa thương mại, Warhol nổi lên với tác phẩm lon súp cà chua Campbell, và những bức tranh minh họa những người nổi tiếng như Marilyn Monroe, Elvis Presley. Ông còn là một nhà minh họa thời trang cho các tờ tạp chí như Glamour, Vogue và Mademoiselle. Nhận thấy tiềm năng của làng thời trang, vào thập niên 1960, ông bắt đầu đưa những bức vẽ tay lên những chiếc váy. Năm 1966, Yves Saint Laurent từng tổ chức một show diễn lớn gọi là Pop Art Collection để vinh danh chặng đường nghệ thuật của Andy Warhol. Hiện nay, Pop Art trong các BST thời trang là hết sứ phổ biến, như Dior, Marc Jacobs, Nike…

Souper Dress với hộp súp Campbell là mẫu váy giấy của Andy Warhol nổi tiếng nhất, tuyên bố về lối sống của chủ nghĩa tiêu thụ tiêu biểu.

Mỹ thuật công nghiệp

Không dừng lại ở đó, Pop Art còn thể hiện cá tính cho các thiết kế đồ họa, kiến trúc và nội thất. Các công trình kiến trúc mang phong cách Pop Art rất nổi bật, phá cách, tạo vẻ ngoài nổi bật đầy thú vị. Pop Art mang lại cảm giác đa chiều cho các tòa nhà bằng cách sử dụng ánh sáng và hình khối.

Tòa nhà Kuggen tại Trường Đại học Công nghệ Chalmers ở Gothenburg, Thụy Điển, nổi bật với phong cách Pop Art.
Nhà hàng Trung Quốc Fook Yew tại Indonesia với nội thất đầy sắc màu và những mảng tường trang trí theo phong cách Pop Art.
Bìa Album Art Pop tại Nhật của Lady Gaga cũng được thiết kế theo phong cách Pop Art.

Graffiti

Từ khi ra đời, Pop Art và nghệ thuật đường phố đã luôn song hành, tạo nguồn cảm hứng cho rất nhiều nghệ sĩ phá bỏ giới hạn. Keith Haring (1958-1990) là nghệ sĩ Graffiti, sử dụng những hình ảnh Pop Art và khẳng định vai trò của cả Pop Art và Graffiti đối với không chỉ thế giới nghệ thuật mà còn với xã hội. Nổi tiếng với hoạt động tích cực, ông đã sử dụng nghệ thuật của mình để thúc đẩy nhận thức về căn bệnh AIDS, chống phân biệt chủng tộc, đề cao nhận thức tình dục an toàn vì cộng đồng LGBTQ+. Ông đã phát triển phong cách Pop-Graffiti rất cụ thể, tập trung vào những đường nét táo bạo nhưng uyển chuyển trên nền hình ảnh và biểu tượng như những hình nhân đang nhảy múa, chó sủa, đĩa bay và những người có đầu được vẽ thành tivi.

Ignorance = Fear (1989) là poster được Keith Haring sáng tác cho tổ chức phòng chống AIDS tại New York, nói về sự nguy hiểm thầm lặng của AIDS. Poster được thể hiện bằng tông màu đối lập (xanh-đỏ), chứng minh khả năng ứng dụng vô tận của Pop Art mặc dù được sử dụng với chủ đề xã hội.
Banksy là nghệ sĩ Pop-Graffiti tài hoa bậc nhất hiện nay, các tác phẩm đường phố của ông mang đến những thông điệp nhân văn một cách dễ hiểu. Bức tranh trên hình vẽ một cậu bé đang còng lưng làm việc bên máy khâu, nhắn nhủ thông điệp về nạn bóc lột lao động trẻ em.

Đưa nghệ thuật vào không gian công cộng, đưa những tác phẩm đường phố vào phòng tranh, Keith Haring cùng với những nghệ sĩ như Jean-Michel Basquiat đã thu hẹp khoảng cách giữa thế giới nghệ thuật hàn lâm và nghệ thuật đường phố, nghệ thuật Pop Art. Họ đã ảnh hưởng đến cả một thế hệ, bao gồm cả các nghệ sĩ theo trường phái Pop-Graffiti nổi tiếng như Banksy và Shepard Fairey.

Dù có thể không phải là fan của Hip Hop không thể phủ nhận rằng văn hoá này, bao gồm âm nhạc, thời trang và Graffiti đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến...

Thuộc thế hệ những nghệ sĩ Graffiti đời đầu tại Pháp, Cyril Kongo tạo dựng tên tuổi thông qua những nỗ lực tạo ra những thay đổi mang tính cách mạng đưa Graffiti vượt ra khỏi cái nhìn khắt khe của giới nghệ thuật, trở thành một môn nghệ thuật được công nhận. Là một người yêu thích sự tự do và đam mê trải nghiệm, Kongo tự thừa nhận rằng phong cách nghệ thuật của ông có được ngày hôm nay là quá trình học hỏi và phát triển từ nhiều nền văn hóa cũng như con người mà ông từng tiếp xúc. Một trong những ảnh hưởng dễ thấy nhất trong mỗi tác phẩm của Kongo chính là Pop Art.

Kongo chia sẻ rằng: “Jeans-Michel Basquiat là người đã truyền cảm hứng đặc biệt cho tôi, vì anh ấy là cầu nối mở ra cánh cửa mới của đường phố và thế giới nghệ thuật”. Bộ sưu tập “Immortel” là một loạt tác phẩm vẽ chân dung những tượng đài “bất tử” đã tạo ra những dấu mốc quan trọng trong lịch sử nghệ thuật thế giới. Trong đó, hình ảnh những nghệ sĩ nổi tiếng như Andy Warhol, Keith Haring, Jean-Michel Basquiat và Yayoi Kasuma được Cyril Kongo tái hiện lại với phong cách Pop Art đồ hoạ đặc trưng, tôn vinh những cống hiến và di sản nghệ thuật mà họ đã để lại.

Keith Haring và Andy Warhol đã khiến giới mộ điệu thay đổi cách nhìn về nghệ thuật đại chúng cũng như nghệ thuật đường phố. Những biểu tượng đó luôn là nguồn cảm hứng cho Cyril Kongo để ông luôn không ngừng học hỏi sáng tạo trên hành trình phát triển nghệ thuật Graffiti.
Nữ hoàng chấm bi Yayoi và Jeans-Michel Basquiat là 2 biểu tượng đã truyền cảm hứng rất nhiều đến phong cách sáng tác của Cyril Kongo.

Thực tế, chính bản chất và vai trò của Pop Art là điều đặc biệt khiến nó trở thành nguồn cảm hứng bất tận với Kongo. Không thể phủ nhận Pop Art là mối liên kết giữa nghệ thuật với những chủ đề mới, và có thể được coi là một trong những biểu hiện đầu tiên của chủ nghĩa hậu hiện đại: xoá nhoà ranh giới giữa nghệ thuật với đời sống thường ngày, phá bỏ tầng lớp giữa văn hoá quý tộc và văn hoá đại chúng.

Cả Graffiti và Calligraphy đều có nhiều kỹ thuật giống nhau thông qua việc sửa đổi và tô điểm cho các mẫu chữ. Vậy cụ thể sự giống nhau của hai...

Chủ nghĩa hậu hiện đại từ chối vai trò chủ thể của con người, tập trung vào sự tiếp nhận mà không cần suy diễn, không chú ý đến chiều sâu, không diễn dịch bản chất sự vật theo chủ quan của tác giả, giá trị nghệ thuật tùy thuộc vào kinh nghiệm cá nhân của người tiếp nhận, vào nền văn hoá mà họ sở thuộc. Nghệ thuật Pop Art ra đời với ý tưởng là tạo ra hình thức nghệ thuật có thể hiểu được ý nghĩa chứa đựng ngay lập tức. Và những người bình thường khi đánh giá một tác phẩm nghệ thuật, họ có thể thích và không, nhưng họ không cảm thấy lo sợ vì không thể nhìn thấy vẻ đẹp của một tác phẩm mà ai đó cho rằng là “đỉnh cao của nghệ thuật”. Đặc điểm này của Pop Art đã giúp cho các viện bảo tàng, phòng trưng bày gần gũi hơn với công chúng. Cyril Kongo với tâm niệm đưa vũ trụ Graffiti vươn ra thế giới, vượt ra ngoài quy chuẩn đánh giá thông thường, thật sự rất trùng hợp với Pop Art. Và có lẽ thật ra chính Pop Art là yếu tố thúc đẩy mục tiêu mạnh mẽ của Kongo đến như vậy, để đến bây giờ, các tác phẩm Graffiti của Kongo đã được trưng bày tại rất nhiều triển lãm, phòng tranh trên thế giới, ông cũng hợp tác với rất nhiều nhà mốt hàng đầu như Hermes, Channel, Richard Mille,…

BST “Émoticône” được Kongo sáng tác vào năm 2020 mang đậm phong cách Pop Art, lấy cảm hứng từ những biệu tượng emoji đã làm mưa làm gió ngay từ khi ra mắt trên những chiếc điện thoại Nhật Bản vào những năm 1990, sau đó trở thành ngôn ngữ giao tiếp cảm xúc phổ biến trên thế giới. BST với hình ảnh biểu tượng emoji quen thuộc ở vị trí trung tâm, trên nền là những hoạ tiết đồ hoạ chấm bi, ngôi sao, đường kẻ – âm hưởng Pop Art từ những nghệ sĩ Yayoi Kusama và Roy Lichtenstein. Pop Art đã phá bỏ đi rào cản của nghệ thuật khi hướng nó tới gần hơn với đại chúng bằng cách lựa chọn khai thác những chủ đề đời thường như lon súp hay chai coca cola, thì nay Kongo đã lựa chọn những biểu tượng emoji làm tâm điểm trong tác phẩm.

BST Émoticône truyền tải thông điệp về sự biết ơn và tinh thần lạc quan tận hưởng cuộc sống mà Kongo muốn truyền tải tới tất cả mọi người.

Ra mắt vào năm 2020, Cyril Kongo Vietnam Gallery là gallery cá nhân đầu tiên của nghệ sĩ graffiti Cyril Kongo, trưng bày các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu trong sự nghiệp của ông. Dự án thứ hai mà S&S Art tự hào mang đến là S&S Art Gallery, sắp ra mắt tại Sài Gòn, không chỉ có những tác phẩm của Cyril Kongo mà còn giới thiệu thêm những tác phẩm của nghệ sĩ quốc tế khác. Nơi đây là một điểm hội tụ những tinh hoa nghệ thuật nói chung và trường phái đương đại nói riêng, từ khắp nơi trên thế giới, với nguyện vọng là một cầu nối, mang những điều đẹp đẽ mà nghệ thuật mang đến với công chúng

Với mong muốn đưa bộ môn nghệ thuật đường phố graffiti gần hơn tới người Việt, nghệ sĩ Graffiti gốc Việt - Cyril Kongo, người từng nổi danh với...

Tạp chí Phái mạnh ELLE Man

Bài viết mới nhất

Sexting – Làm sao để gợi mở như một quý ông tinh tế?

Bạn đã từng nghe qua cụm từ sexting bao giờ chưa? Chắc hẳn rồi! Quả thực, đây không phải là…

2 hours ago

Quà tặng Giáng Sinh 2021 và Năm Mới 2022 cho tín đồ thời trang

Mùa lễ hội (Giáng sinh và Năm Mới) đang tới gần, bạn đã lựa chọn được món quà tặng nào…

18 hours ago

Hellbound – Trước bất định, ta còn đức tin gì?

Đánh bại vị trí quán quân của Squid Game trên Netflix, đứa con tinh thần mới nhất của đạo diễn…

1 day ago

Ý nghĩa logo thương hiệu – Phần 51: Tesla

Từng đối mặt với nguy cơ phá sản 2 lần, chỉ sinh lời sau hơn 10 năm kể từ khi…

2 days ago

No Time To Die – Cái kết trọn vẹn cho hành trình 007 của Daniel Craig

Bom tấn No Time To Die là phần phim xúc động và hoành tráng nhất về điệp viên 007, xứng…

2 days ago

Rolls-Royce New Ghost lộ diện giữa Sài Gòn

Sự mượt mà và bình lặng của Rolls-Royce New Ghost đưa chủ nhân tới thế giới của sự cân bằng…

3 days ago