06/07/2026

Review “Sheep in the Box”: Thế lưỡng nan của ký ức

Review “Sheep in the Box”: Thế lưỡng nan của ký ức
Nhắc đến điện ảnh của Kore-eda Hirokazu, người ta nghĩ ngay đến những thước phim bình dị mang hình hài của đời sống thường nhật, để từ đó mở ra suy tưởng sâu sắc về ý nghĩa của việc thuộc về một gia đình, một cộng đồng và rộng hơn là giá trị của việc làm người. Với “Sheep in the Box”, Kore-eda tiếp tục dấn thân vào những chất liệu làm nên thương hiệu của mình.

 

Sheep in the Box được lựa chọn vào danh sách tranh giải chính thức cho Cành Cọ Vàng (Palme d’Or) tại Liên hoan phim Cannes lần thứ 79 diễn ra vào tháng 5 năm 2026. Đây là lần thứ tám Kore-eda góp mặt tại hạng mục này và cũng là màn tái xuất của ông với một kịch bản nguyên tác bằng tiếng Nhật kể từ sau thành công vang dội của Shoplifters (bộ phim đoạt Cành Cọ Vàng năm 2018). Mặc dù nhận về những phản hồi đa chiều từ giới phê bình quốc tế về tính thử nghiệm triết lý và ngụ ngôn, bộ phim vẫn là một hiện tượng điện ảnh gây chú ý lớn toàn cầu. Tại Việt Nam, phim được khởi chiếu chính thức tại các cụm rạp từ ngày 3/7/2026.

Sheep in the Box
Sheep in the Box được chọn vào danh sách tranh giải Cành Cọ Vàng tại Cannes lần thứ 79. (Ảnh: IMDb)

Yêu con qua hình hài robot

 

Sheep in the Box (tựa Việt: Ngày Con Sống Lại) lấy bối cảnh ở một thế giới tương lai gần, xoay quanh hành trình vượt qua nỗi đau của cặp vợ chồng Otone và Kensuke sau sự ra đi đột ngột của cậu con trai nhỏ Kakeru. Để lấp đầy khoảng trống, họ đã đăng ký một chương trình công nghệ AI đặc biệt để nhận nuôi một robot hình người có ngoại hình và tính cách được mô phỏng y hệt đứa con đã mất.

 

Theo Japan Times, vị đạo diễn 63 tuổi tiết lộ ý tưởng cho tác phẩm lần này đến từ một nguồn khá bất ngờ. “Cảm hứng lớn nhất đến với tôi khi đọc bài báo về một doanh nghiệp Trung Quốc dùng AI tạo sinh để hồi sinh người chết”. Trước công nghệ ấy, tâm trạng của Kore-eda là một sự mâu thuẫn phức tạp. “Tôi hiểu vì sao người ta cần đến nó và tôi tin nó có thể phần nào xoa dịu những tâm hồn đang rỉ máu. Nhưng đó cũng là một hành trình đầy rủi ro. Về mặt đạo đức, đây là một địa hạt nhạy cảm và nguy hiểm cần được soi chiếu”, ông bày tỏ.

Sheep in the Box
Phim xoay quanh hành trình vượt qua nỗi đau của cặp vợ chồng Otone và Kensuke. (Ảnh: IMDb)

Nỗi băn khoăn ấy soi bóng vào phim qua hai thái cực của cặp nhân vật chính. Ngay từ đầu, hai vợ chồng có phản ứng hoàn toàn trái ngược trước sự xuất hiện của “Kakeru mới”. Otone quấn quít bên chú robot suốt cả ngày. Nhìn đứa con không thể ăn uống, cô cũng bỏ bữa theo. Ở chiều ngược lại, Kensuke luôn lý trí tự nhủ rằng Kakeru chỉ là một khối sắt vô tri. Ngay cả khi Kakeru cất tiếng gọi bố, Kensuke vẫn tuyệt tình quay lưng. Thế nhưng, boong phòng thủ ấy đã sụp đổ khi anh vô tình bật cười, rồi nghẹn ngào xúc động nghe cậu bé máy lặp lại vanh vách tên các ga tàu trên tuyến đường sắt cũ, cũng là thói quen sinh thời của đứa con trai quá cố.

 

Kensuke khước từ thực thể mới vì anh tỉnh táo hiểu rằng, đứa con bằng xương bằng thịt của mình đã vĩnh viễn ra đi. Trong tâm thế của một người cha, anh quẩn quanh đi tìm lời giải cho những câu hỏi đau đớn: Vì sao con chết và ai là người phải chịu trách nhiệm? Ngược lại, Otone lại bất lực trước khoảng trống quá lớn mà con trai để lại; chính nỗi chối bỏ thực tại ấy đã đẩy cô tìm đường quay về quá khứ, bấu víu vào cậu bé robot để hồi sinh những ngày tháng cũ.

 

Từ đó, Kore-eda đã mượn bi kịch của đôi vợ chồng để khắc họa những cách thức biểu đạt khác nhau của nỗi đau và hành trình đơn độc của mỗi người trên con đường học cách chấp nhận sự chia ly.

phim nhật
Đôi vợ chồng có những phản ứng trái ngược trước Kakeru trong hình hài robot. (Ảnh: IMDb)

Triết lý chiếc hộp và thông điệp cứu rỗi bằng trí tưởng tượng

 

Tựa đề của bộ phim, Sheep in the Box, gợi nhắc đến cuốn tiểu thuyết kinh điển Hoàng tử bé của đại văn hào Antoine de Saint-Exupéry, cuốn sách mà Otone đã đọc cho cậu bé robot nghe bên giường ngủ. Trong truyện, Hoàng tử liên tục từ chối những bức vẽ con cừu vì chúng không đúng ý cậu. Chỉ đến khi người phi công bất lực phác họa một chiếc hộp kín và bảo rằng con cừu đang ở bên trong, cậu mới mỉm cười mãn nguyện. Bởi lẽ, cậu đã “nhìn thấy” con cừu bằng chính trí tưởng tượng của mình.

 

Kore-eda đã sử dụng triệt để ẩn dụ này để xây dựng triết lý cốt lõi của bộ phim. Bản thân robot Kakeru chính là chiếc hộp kín. Sâu thẳm bên trong cơ thể cơ khí của cậu là một khoảng trống rỗng. Ban đầu, cậu là “vật chứa” ký ức của người khác. Cậu mang cái tên Kakeru, được kỳ vọng sẽ có những thói quen, những sở thích của đứa trẻ đã mất để làm vừa lòng cha mẹ. Cậu không có ký ức gốc, không có bản ngã; cậu chỉ là một chiếc hộp rỗng thu hút và phản chiếu lại tất cả những khao khát, định kiến và dằn vặt của những con người xung quanh cậu.

ngày con sống lại
Tựa đề phim gợi nhắc đến cuốn tiểu thuyết kinh điển Hoàng tử bé. (Ảnh: AEON BETA Cinema)

Thế nhưng, bản chất của trí tuệ nhân tạo trong phim là tự học và tương tác, chính từ khoảng trống vô định đó, một căn tính mới đã bắt đầu nảy mầm một cách kỳ diệu qua việc giao lưu với thế giới hữu cơ. Chú robot bắt đầu tự tạo ra những ký ức mới của riêng mình. Qua những buổi chiều lặng lẽ ngắm người thợ lột từng thớ gỗ tại xưởng của cha, những lần nghiền ngẫm bản vẽ kiến trúc của mẹ, hay những khoảnh khắc hòa mình vào cỏ cây, thiên nhiên… cậu sưởi ấm trái tim vốn đang nguội lạnh của mẹ, đồng thời phá vỡ lớp vỏ phòng thủ đầy định kiến của cha bằng chính niềm say mê tự thân với cái nghề của họ. Chú robot nhỏ tự hình thành những thói quen đầy chất thơ như áp tai vào những thân cây xù xì, lắng nghe tiếng nhựa sống chảy bên trong, để rồi từ tiếng vọng trìu mến của đại ngàn, cậu mường tượng ra hình hài của những thanh dầm, cây cột nâng đỡ các ngôi nhà trong tương lai.

 

Chính lúc này, một nghịch lý lớn xuất hiện: Để trở thành một sinh linh có bản sắc, có tâm hồn độc lập, chú robot buộc phải “lãng quên” hoặc tách rời khỏi những ký ức vay mượn của “Kakeru con người”. Ký ức mới và ký ức cũ xung đột trực diện trong một cơ thể cơ khí. Nếu chọn trung thành với ký ức của người đã khuất, cậu mãi mãi chỉ là một món đồ công nghệ vô tri. Nếu chọn lớn lên bằng ký ức của chính mình, cậu sẽ đánh mất đi lý do tồn tại ban đầu trong ngôi nhà ấy.

 

Đôi vợ chồng cũng lại đứng trước một ngã ba, hoặc tiếp tục giữ cậu lại như một búp bê để gặm nhấm quá khứ, hoặc phải chấp nhận buông tay để cậu rời xa mình lần thứ hai. Kore-eda đẩy nhân vật vào thế lưỡng nan để họ tự nhận ra rằng con người không thể sống thiếu ký ức, nhưng nếu quá chung thủy với quá khứ, họ sẽ tự triệt tiêu đi hiện tại của chính mình. Lối thoát duy nhất là học cách bao dung với nó, chấp nhận để những điều không còn hiện hữu được tồn tại một cách dịu dàng trong không gian của trí tưởng tượng.

 

Triết lý lay động ấy kết tinh thông qua hình ảnh hai vợ chồng đứng giữa khu vườn nhà, lặng lẽ ngước nhìn những vòm ô liu và chanh do chính tay mình vun vén. Trên những tán lá cao, họ hình dung ra hai dáng hình của Kakeru. Một là đứa con yêu dấu đã mãi mãi ra đi và hai là thực thể mà họ vừa gắn bó, cùng song song tồn tại. Cặp đôi đã tưởng tượng về những điều không còn hiện hữu bằng tất cả tình yêu thương. Đúng như lời nhắc nhở trong cuốn Hoàng tử bé: “Điều cốt yếu thì mắt thường không thể nhìn thấy”. Kakeru không còn bên cạnh nhưng họ vẫn thấy cậu bé nếu nhìn bằng cả trái tim. Với Kore-eda, chính khoảnh khắc ấy mới là nơi phép màu đích thực trú ngụ.

ngày con sống lại
Phim gửi gắm thông điệp về việc trân trọng hiện tại và hướng tới tương lai. (Ảnh: AEON BETA Cinema)

Vẫn còn những điểm chưa trọn

 

Từ ý niệm về khoảng trống của trí tuệ nhân tạo, Kore-eda lột tả một loạt những giằng xé sâu kín trong bản ngã con người. Đến giới hạn nào thì tình mẫu tử, phụ tử có thể dung nạp một thực thể cơ khí như một đứa con bằng xương bằng thịt? Và liệu họ có chấp nhận được Kakeru robot này không, khi từng lời nói, cử chỉ của cậu bắt đầu lệch pha, xa rời hoàn toàn khỏi miền ký ức mà họ hằng gìn giữ về đứa con đã khuất? Khi cái chết có thể được thay thế bằng một bản sao nhân tạo, thì ý nghĩa của những lễ tang, của sự tưởng nhớ và nỗi đau mất mát liệu có bị phai màu?

 

Song, Kore-eda bằng lòng với việc trả lại câu hỏi cho khán giả. Qua việc đặt sự bấu víu đầy cực đoan của người mẹ vào một thực tại ảo cạnh sự khước từ lạnh lùng của người cha, ông xem cả hai thái cực ấy đều là những phản ứng bản năng, hợp lý của con người trước nỗi đau quá lớn của sự mất mát. Ông cũng tuyệt nhiên không đưa ra bất kỳ lời phán xét nào về mặt đạo đức đối với sự thay thế này. Cũng chính vì sự lấp lửng, mơ hồ ấy mà Sheep in the Box có phần khá ủy mị, dễ đoán và không được lòng nhiều người vì hơi hướm “lãng mạn hóa” trí tuệ nhân tạo.

ngày con sống lại
Phim va phải nhiều trái chiều vì khá dễ đoán và có phần lãng mạn hoá trí tuệ nhân tạo. (Ảnh: AEON BETA Cinema)

Hạn chế khác của tác phẩm nằm ở tuyến truyện phụ mang đậm tính viễn tưởng bao gồm cuộc đào thoát của những đứa trẻ mất tích, những chú robot bỏ trốn và sự hiện diện của một mạng lưới AI ngầm. Dù các phân đoạn này nỗ lực đưa bộ phim chạm đến các vấn đề nhức nhối như sự bóc lột, quyền tự trị hay sự khước từ căn tính, chúng lại bị bỏ lửng và chưa được đào sâu tới ngưỡng về mặt tình tiết. Hệ quả là một cấu trúc phim có phần hỗn mang, đôi chỗ gây hụt hẫng, khiên cưỡng cho người xem.

 

Sau cùng, Sheep in the Box là một bài thơ đầy lay động về tình thế lưỡng nan của ký ức, nỗi đau và sự mất mát. Tác phẩm có lẽ không phải là đứa con hoàn hảo nhất trong sự nghiệp của nhà cầm trịch tài ba này nhưng vẫn là đứa con mang đậm dấu ấn, mã gen đặc trưng của vị đạo diễn người Nhật Bản như sự bao dung với những ẩn ức của con người, những chấn thương tâm lý và sự đào sâu vào những bất toàn trong cấu trúc gia đình, căn tính, sự thuộc về…

_____

Bài: Hoàng Thúy Vân